Có những khi băng qua thành phố
-
Posted 2 years agoComments & 3 notes • January 21st, 2010
So với lần trước về Việt Nam ngay dịp Tết nên chỉ quanh quẩn gần nhà và khu quận 1 hay quận 3 thì lần này trở về tui có dịp đi lại ngang dọc nhiều nơi hơn và gặp gỡ nhiều người hơn. Vì tình cờ và cả cơ duyên khiến tui lại được có dịp rong ruổi khắp các quận trong thành phố, từ khu trung tâm sầm uất quận 1, đô thị đông đúc quận 5, chung cư Phú Nhuận cho đến những vùng ven như quận 8, Tân Bình, Tân Phú..lại còn được đi qua những địa danh nổi tiếng một thời của Sài Gòn từ trung tâm như Bưu điện, nhà thờ Đức Bà, dinh Độc Lập cho đến Lăng Ông Bà Chiểu, bùng binh Lăng Cha Cả…Có thể là do lần này tui mạnh dạn vác xe chạy khắp hang cùng ngõ hẻm quanh thành phố ngay chứ không như lần trước mãi sau 1 tuần tui mới dám chạy xe ra đường.
Linh tinh giáo dục
-
Posted 2 years agoComments & 1 note • September 11th, 2009
Bên blog bác Tuan có bài này hay: http://tuanvannguyen.blogspot.com/2009/09/nguyen-nhan-khung-hoang-giao-duc-bac-ai.html.
Bản gốc :
http://www.hks.harvard.edu/innovations/asia/Documents/HigherEducationOverview112008.pdf
Bác Tuan trích lại những câu mang tính then chốt trong bài nghiên cứu:
Tình hình hiện tại:
“Phát triển kinh tế ở Đông và Đông Nam Á cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển và giáo dục đại học. Mặc dù mỗi một quốc gia thịnh vượng nhất trong khu vực này – Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và gần đây là Trung Quốc - đã đi theo những con đường riêng của mình, nhưng có một điểm chung trong sự thành công của họ là họ đã chuyên tâm đeo đuổi một nền giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Những quốc gia kém thành công hơn trong khu vực Đông Nam Á – Thái Lan, Philippines, Indonesia – cho chúng ta một câu chuyện cảnh giác. Các quốc gia này thường không đạt chất lượng cao trong giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học, và họ đã thất bại trong việc phát triển những nền kinh tế hiện đại. Đây là một điều không lành cho tương lai của Việt Nam, bởi các trường đại học Việt Nam tụt lại khá xa đằng sau ngay cả những láng giềng kém mở mang của mình”
“Việt Nam không có dù chỉ là MỘT trường đại học có chất lượng được công nhận.”“Đại học Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao động có đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam.”
Đâu là nguyên nhân?
“Trái với những sinh viên Trung Quốc và Ấn Độ, sinh viên Việt nam thường khó cạnh tranh để chiếm một xuất học bổng tại các chương trình giáo dục trên đại học tinh túy tại Mỹ hay Châu Âu.”
Di sản của lịch sử: “Những vấn nạn Việt Nam đang phải đối đầu trong hệ thống giáo dục đại học ngày nay một phần là do hậu quả từ một lịch sử cận đại bi thảm của đất nước này.”
Chính sách quản lí: “Nguyên nhân hiện đại tạo nên khủng hoảng là sự thất bại sâu rộng trong chính sách quản lý của Nhà Nước.”Bị kiềm chế: “Tất cả các học viện tại Việt Nam đều phải chịu sự kiểm soát của một hệ thống quản lý tập trung cao độ.”
Tham nhũng: “Tham nhũng tràn lan và ai cũng biết bằng cấp và tước vị là những thứ có thể mua bán tràn lan. Hệ thống nhân viên cán bộ thì mập mờ và mọi sự thăng thưởng đều dựa trên những tiêu chuẩn bên ngoài khả năng học thuật, như mức độ thâm niên, lai lịch chính trị, lai lịch gia đình, cũng như sự móc nối cá nhân.”Khác biệt thế hệ, đố kị: “Giảng viên các Khoa và Ban quản trị cao cấp của hệ thống đại học có khuynh hướng bị thống trị bởi những cá nhân được huấn luyện từ Liên Xô hoặc Đông Âu, không nói được Anh ngữ và trong không ít trường hợp, tỏ ra ác cảm với các đồng nghiệp trẻ tuổi hơn được giáo dục từ Tây Phương.”
Vô trách nhiệm: “Đại học Việt Nam không phải báo cáo hoặc chịu trách nhiệm trước các cổ đông bên ngoài, cũng như trước cán bộ công nhân viên bên trong.”
Chính trị hóa: “Ngay cả khi so sánh với Trung Quốc, đại học Việt Nam tỏ ra nổi bật về mức độ kiến thức bị kiểm soát. Ngay cả khi các trường đại học đã được nhận một không gian thông thoáng hơn, một mạng lưới kiểm soát chính thức cũng như trá hình vẫn còn vây bọc, khiến các trường đại học Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị bóp nghẹt về tri thức, trong khi công chúng đang phản ứng ngày càng lớn.”*************
Trên đây là mức độ khủng hoảng và những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng của giáo dục bậc đại học của VN hiện nay. Về mức độ khủng hoảng, ai cũng biết tình trạng của giáo dục VN nói chung và giáo dục đại học nói riêng đang lâm vào khủng hoảng khá trầm trọng nhưng lại không biết chính xác là trầm trọng như thế nào. Hai bảng số liệu trong bài gốc phần nào cho thấy sự trầm trọng đó. Hơn nữa, nếu số liệu thống kế về số lượng sinh viên làm việc đúng ngành nghề mình học (tui hiện không có nhưng tui nghĩ là có số liệu này) thì sẽ tạo nên một bức tranh rõ ràng hơn.
Còn những nguyên nhân gây ra tình trạng này, đối với những người am hiểu tình trạng giáo dục VN thì không mới, còn có thể áp dụng được với cả các bậc giáo dục thấp hơn chứ không riêng gì bậc đại học. Bên cạnh những nguyên nhân này còn có một nguyên nhân cơ bản hơn nhưng ít được người ta chú ý là hệ thống giáo dục các bậc thấp hơn (hay tóm gọn là bậc phổ thông) cũng khủng hoảng trầm trọng không kém. Người ta thường nói giáo dục VN là “Nhà dột từ nóc” nhưng theo tui nền giáo dục VN cũng đang chịu khủng hoảng từ gốc rễ tức các bậc giáo dục cơ bản phổ thông như cấp tiểu học, trung học. Chính tư duy giáo dục cũ kỹ, lạc hậu hay tạm gọi thẳng thắn hơn là tư duy “đọc-chép” đã hình thành một thói quen ì trong tư duy học tập, trong cách tiếp cận vấn đề của mỗi học sinh. Ngay cả khi được hứa hẹn khi lên bậc đại học thì tư duy và thói quen học tập sẽ phải thay đổi, sẽ tự túc tự học nhiều hơn nhưng quá trình lâu dài (12 năm) “đọc-chép” không dễ dàng thay đổi ngay được. Do đó, mặc dù tự hào về hệ thống thi cử đầu vào cho bậc đại học còn giữ được mức chất lượng cao (theo như bài nghiên cứu trên của Vallely-Wilkinson) nhưng lại không đảm bảo được việc tinh tuyển được những tư duy học tập tiến bộ dành cho bậc đại học. Chính những kỳ thi đại học nặng nề khiến cho thí sinh đối phó với nó càng làm tư duy học tập kiểu cũ nặng nề hơn và có thể phần nào loại bớt những tiềm năng trong số những thí sinh không vượt qua được nó bởi những lý do nào đó. Để thay đổi tư duy học tập cần có phương pháp học thuật mới, một mạng lưới giáo viên cấp thấp có tư duy mới và nội dung giảng dạy phù hợp, nhất quán và mang tính tiếp nối đến chương trình đại học. Nếu muốn xây dựng một trường đại học kiểu mới làm kiểu mẫu cho những trường khác thì cũng phải xây dựng cả những trường kiểu mới ở bậc thấp hơn. Và số lượng những trường bậc thấp mới này phải nhiều hơn số trường đại học kiểu mới.
Một nguyên nhân quan trọng không kém khác ngoài những nguyên nhân kể trong bài là xuất phát từ văn hóa và tập quán của người VN. Người VN có truyền thống “hiếu học” do đó số lượng trường đại học và những chương trình đạo tào bậc cao hiện giờ quá nhiều. Tuy vậy cũng do bản tính của người VN khá sĩ diện hão nên số lượng lớn đó lại không nâng cao được chất lượng đào tạo mà trái lại phần lớn có chất lượng thấp, chủ yếu để giải quyết nhu cầu danh dự “bằng cấp” để được vị nể trong xã hội hơn là nhu cầu học tập nghiên cứu thực sự. Hơn nữa, một tầng lớp học giả, nghiên cứu sinh hướng đến bằng cấp cao (thạc sĩ, tiến sĩ) để mong thăng tiến đến các vị trí cao hơn là có tư duy nghiên cứu khoa học nghiêm túc. Do đó, tầng lớp này lúc còn là nghiên cứu sinh thì đều là tiềm năng quan trọng nhưng khi đã có bằng cấp cao thì lại tự mãn và đánh mất cơ hội tiếp tục nghiên cứu. Số này nếu trở thành tầng lớp giảng viên đại học dần đánh mất khả năng tự học hỏi, cập nhật kiến thức mới mà chỉ sử dụng giáo trình và kiến thức cũ kỹ trong quá trình giảng dạy. Hơn nữa, tâm lý thầy phải hơn trò phần nào gây nên sự suy giảm chất lượng qua các thế hệ.
Mặt khác, việc sĩ diện hay ở bài trước gọi là háo danh còn tạo ra xu hướng “nâng cấp” lên đại học bằng mọi giá ở những trường cao đẳng, nhất là hệ thống cao đẳng sư phạm ở các tỉnh. Và các trường trung học chuyên nghiệp thì nhao nhao “nâng bậc” lên cao đẳng. Quá trình nâng cấp này diễn ra vội vàng và không kèm theo sự chuẩn bị chu đáo về lực và lượng dẫn đến sự suy giảm chất lượng trong đào tạo đại học, sinh viên sau khi tốt nghiệp không đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế đang đòi hỏi ngày càng cao.
Thêm một nguyên nhân quan trọng khác mà bài nghiên cứu chỉ phớt qua là ở việc “tự do trong giáo trình” hay nói một cách cụ thể hơn là chương trình giảng dạy (cirriculum) và sách giáo khoa (text-books). Mạng lưới kiểm soát tri thức trong các trường đại học phần nào duy trì chương trình giảng dạy cũ kỹ, sách giáo khoa không có độ cập nhật cao khiến những kiến thức được giảng dạy là những kiến thức cũ kỹ lạc hậu. Cải tổ chất lượng giáo dục ngoài việc cải tổ học thuật qua việc thay đổi tư duy đào tạo và học tập ở giảng viên và học sinh ra còn phải là sự cải tổ về hệ thống sách giáo khoa (nội dung) và chương trình giảng dạy (cơ cấu). Chính việc cải tổ cơ cấu và nội dung đào tạo bảo đảm cho những câu hỏi học cái gì? học như thế nào? khối lượng kiến thức trong chương trình ra sao? khả năng tiếp thu của học viên thế nào? Việc cải tổ cơ cấu và nội dung đào tạo này càng phải được áp dụng song song ở cả những bậc giáo dục thấp hơn như cấp tiểu học, trung học.
Tác giả Vallely-Wilkinson nhấn mạnh nguyên nhân từ cách thức quản lý nhà nước, mà cụ thể hơn là vào vấn đề tự trị tự quản đại học (Autonomy) và quá trình phân quyền (de-centralization) trong hệ thống giáo dục. Như mọi ban ngành khác, hệ thống giáo dục đại học VN chịu sự quản lý tập quyền (centralized) nặng nề. Ngoài những ảnh hưởng kể trong bài, sự quản lý tập trung hệ thống giáo dục thường chú trọng vào những tổ chức quản lý giáo dục đại học ở những thành phố lớn như Hà Nội và TPHCM (như mô hình ĐH Quốc Gia HN, ĐHQG TPHCM) mà giảm nhẹ phát triển những đại học vùng ở địa phương các tỉnh khác. Chính sự tập trung này phần nào đã dẫn đến sự mất cân đối vùng miền như hiện nay kể về phát triển kinh tế xã hội lẫn cơ cấu dân số. Nếu có phân quyền và tự quản tự trị giáo dục thì những trường đại học địa phương có nhiều cơ hội hơn để tự phát triển và phần nào cạnh tranh (về tuyển sinh) với những trường đại học ở các thành phố lớn.
Việc quản lý tài chính kế toán độc lập cũng giúp cho các trường ngoài khả năng sử dụng ngân sách nhà nước còn có việc thu hút các nguồn tài trợ từ bên ngoài doanh nghiệp, các tổ chức, các quỹ nghiên cứu để thu hút giảng viên giỏi, nâng cao cơ sở vật chất hạ tầng được tốt hơn. Ở Việt Nam vẫn chưa có (hoặc có quá ít) những mối liên hệ của trường đại học với doanh nghiệp tư nhân, quỹ đầu tư, quỹ nghiên cứu khoa học. Chính sự thiếu hụt này làm cho trường đại học mất đi cái nhìn cấp thiết về nhu cầu lao động ở bên ngoài và thiếu sự dịch chuyển trong cơ cấu cũng như chương trình giảng dạy cho phù hợp với nhu cầu thực tại. Hơn nữa, việc nâng cao chất lượng của các chương trình nghiên cứu khoa học trong trường nếu áp dụng hiệu quả cho các doanh nghiệp bên ngoài thì rất có thể được sự đầu tư, tài trợ từ những doanh nghiệp đó và nhất là hoàn toàn có thể tạo ra cơ hội việc làm tại những doanh nghiệp đó cho những sinh viên tham gia nghiên cứu. Điều tương tự với các quỹ đầu tư và nghiên cứu.
Tuy vậy, hoạt động dưới sự quản lý tập quyền nhiều năm thì việc “cởi trói” ngay lập tức cũng có thể gây nên nhiều khó khăn trong việc định hướng phát triển và chất lượng giáo dục ở các trường tự quản. Do đó, ban quản lý trung ương cần đề ra những tiêu chuẩn nhất định trong đường hướng phát triển của các trường nhưng chỉ ở mức cố vấn gợi ý chứ không nên can thiệp sâu vào hoạt động của trường. Cần có những giai đoạn chuyển tiếp/đệm trong đó để lực lượng giảng viên và nhất là ban quản trị cao cấp của các trường quen với tình hình mới. Tất nhiên, quá trình “đệm” này nhanh hay chậm là tuỳ thuộc vào khả năng thích ứng nhạy bén cùng những điều kiện khách quan khác ở mỗi trường. Vai trò của các chuyên gia nước ngoài trong quá trình này là cực kỳ quan trọng, nhất là chia sẽ kinh nghiệm quản lý trong việc tự trị tự quản giáo dục.
Về vấn đề hợp tác quốc tế, các trường đại học VN chưa có được một mối liên hệ quốc tế với các trường khác, nhất là phương diện nghiên cứu khoa học. Nói ngắn gọn là nghiên cứu khoa học chưa đồng bộ được mặt bằng chung với các trường đại học ở các nước xung quanh để có thể gửi kết quả nghiên cứu cho những trường ở nước khác phân tích, đánh giá. Các nghiên cứu (research) hay những bài viết (publications) từ các trường VN chưa được đánh giá cao trong cộng đồng học thuật (peer-review). Do đó, chương trình đào tạo của các trường đại học VN không đồng bộ (và do đó không được đánh giá cao) với các trường trong khu vực.
Trong bài đề cập rất hay đến hiện tượng trao đổi giáo dục quốc tế. Hiện nay, với chế độ lương bổng, chế độ hậu đãi và điều kiện làm việc kém, ngay cả tầng lớp sinh viên du học trở về nước cũng từ chối cộng tác cho những trường đại học công lập VN chứ đừng nói đến những chuyên viên giáo dục nước ngoài. Chính sự “cởi trói” để phân quyền trong hệ thống giáo dục làm cho các trường đại học có thể thu hút nhiều vốn đầu tư từ bên ngoài và nhờ đó có những chính sách lương bổng và hậu đãi tốt hơn dành cho các trí thức chuyên gia VN được đào tạo ở nước ngoài. Song song bên cạnh đó thì phải có chính sách quản lý dựa trên cơ sở tôn trọng và đãi ngộ tốt năng lực của tầng lớp trí thức này, giúp họ yên tâm công tác trong lĩnh vực đào tạo.
Các chương trình hợp tác hiện nay chỉ mang tính chất cá thể quy mô nhỏ và thường mang mục đích thu lợi nhuận, như bài viết đã nói. Việc hợp tác với các trường đại học quốc tế còn tuỳ thuộc vào mục đích và tiêu chí của những trường quốc tế đó thế nào. Lấy ví dụ những trường đại học ở Mỹ, nơi có hệ thống giáo dục phân quyền khá triệt để, những trường đại học công lập chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của địa phương, mục tiêu phát triển ra thế giới (để có thể liên kết với VN) còn tuỳ thuộc vào ban lãnh đạo và ngân sách bang. Trong tình hình kinh tế suy thoái, ngân sách thâm thủng như hiện nay, để có suy nghĩ phát triển hợp tác quốc tế cũng là một vấn đề cần cân nhắc kỹ. Đối với những trường tư thục tuy có nguồn ngân sách thoải mái hơn chút ít nhưng để hấp dẫn họ, các trường đại học VN phải có cùng những thứ họ quan tâm (như chương trình nghiên cứu đồng bộ đã nói ở trên).
Giống như các kết luận ở những nghiên cứu của các ngành khác, nguyên nhân chủ chốt cũng là ở cung cách quản lý điều hành của chính quyền và biện pháp là cải tổ cách điều hành ấy. Bài viết còn nêu ra biện pháp xây dựng một “học viện đào tạo đại học mới”. Còn trong phần nhân tố quốc tế, bài viết trên lại không đề cập đến những trường quốc tế 100% hoạt động tại VN (ví dụ trường RMIT). Trong giai đoạn “đệm” như đề cập ở trên, vai trò của những trường này là cực kỳ quan trọng. Trong khi chưa xây dựng một trường đại học kiểu mới có chất lượng, những trường quốc tế như RMIT trên phương diện nào đó cũng có thể là mô hình cho những trường đại học VN học tập. Hiện nay, xây dựng một học viện đào tạo đại học có mô hình quản lý tiến bộ và năng động làm mô hình mẫu thúc đẩy cải tổ trong cách quản lý những trường đại học hiện có là hoàn toàn cần thiết, và chưa nên bàn vội đến những mỹ từ “chất lượng” hay “đẳng cấp thế giới” làm gì. Nhưng điều cơ bản cốt lõi nhất, theo tui nghĩ, chính là nhân tố con người, hay cụ thể hơn là cải tổ tư duy giáo dục hiện nay. Cải tổ nền giáo dục, theo như bài viết, là một quá trình lâu dài. Để chuẩn bị cho việc xây dựng đại học kiểu mới thì phải trước hết hay ít ra là song song cải tổ tận gốc rễ tư duy giáo dục ở những bậc thấp hơn từ tiểu học đến phổ thông trung học (từ học sinh đến giáo viên và cả những nhà quản lý giáo dục cao cấp). Chính sự cái nền tảng cơ bản này có phát triển vững chắc thì việc vận hành đại học kiểu mới có thể hoạt động trơn tru được. Nhưng đây là một quá trình rất lâu dài. We’ll see.
Lang ta lang tang reboot
-
Posted 2 years agoComments • August 13th, 2009
Ăn mít chán chê rùi chịu khó đọc chữ nhé.
Đọc được bài này trên blog tuan’s blog hay: http://tuanvannguyen.blogspot.com/2009/08/luan-ban-ve-thoi-ham-danh-va-vi-cuong.html. Và những bài trên báo của ông Nhàn cũgn rất hay:http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/7677/index.aspx . Thật ra đây chỉ là đoạn bình luận ngắn của bác tuan về bài viết của ông Vương Trí Nhàn trên vietnamnet. Tuy chỉ là bài ngắn nhưng bác tuan đã chỉ rõ mấu chốt của vấn đề. Bài của ông Nhàn trên báo nên chỉ nói được đến thế, và so với những gì diễn ra gần đây, thì cũng đáng tán thưởng rồi.
Trong bài báo đăng trên Vietnamnet, ông Vương Trí Nhàn nói là tại hoàn cảnh dẫn đến tình trạng này ngày nay thì không phải là không có lý. Bác tuan trên blog đã phản bác ý kiến này và cho rằng không phải tại vì chế độ XHCN vì trước năm 1975 trí thức miền Nam, nhất là những trí thức văn nghệ sĩ Bắc di cư, cũng rất khệnh khạng rồi. Thử giải thích ý của ông Nhàn cái. Cho dù là thời VNCH hay ngày nay thì cái “hoàn cảnh” mà ông Nhàn bóng gió nó bắt nguồn từ những tập quán xưa cũ thời phong kiến rồi. Mà người làm quan lại thời phong kiến không thể không có dịp tiếp xúc với những thói xu nịnh từ cấp dưới (có câu “một người làm quan cả họ được nhờ” - câu này vẫn còn đúng cho đến tận ngày nay!). Nhiều khi nhiều danh hiệu, địa vị đều từ ở phía dưới tâng lên cho họ hơn là họ tự nghĩ ra. Và xã hội cũng trọng vọng và cỗ vũ những danh hiệu hơn là nỗ lực. Thể chế VNCH trước 1975 hay bây giờ dù ít dù nhiều cũng bị ảnh hưởng từ nền phong kiến trước đó. Đối với lớp văn nghệ sĩ di cư trước 1975 vốn ảnh hưởng từ tập quán phong kiến trước đó, cộng thêm cả nỗi mặc cảm không mảnh đất cắm dùi nên càng phải chạy theo những chức danh hão để khẳng định mình với cộng đồng mới. Đối với giới trí thức ngày nay thì ông Nhàn đã có giải thích trong bài báo khá chi tiết rồi và hoàn cảnh đó cũng không khác mấy thời xưa. Còn câu “sẽ nghiên cứu thêm” có lẽ là câu mào đầu cho những bài viết sắp tới (nếu có) của ông Nhàn.
Đúng là chưa bao giờ như hiện nay, thói hám danh xảy ra ở bất kỳ hoàn cảnh nào và trong mọi tầng lớp xã hội chứ không chỉ riêng ở giới trí thức. Tui cũng luôn tự hỏi không biết từ lúc nào xã hội lại đẻ ra những thói đó như bây giờ. Xem xung quanh những tờ báo ta thấy hàng loạt các cuộc thi Hoa hậu, Hoa khôi, người mẫu đủ mọi tiêu chí này nọ. Về mảng giáo dục thì bây giờ có những trường quốc tế, có đủ loại bằng cấp chứng chỉ rồi cả đại học đạt tiêu chuẩn thế giới. Còn về giáo dục phổ thông thì nhiều trường vì chạy theo thành tích thi đua đề ra nên đã cho nghỉ học những học sinh có thành tích học tập yếu kém. Và ngay cả cái cách chọn trường ĐH cũng phải là những trường danh tiếng như Y Dược, Bách Khoa…mặc dù có người thi vào mà chưa hề biết trong tương lai mình sẽ làm gì. Nhân tiện cũng giới thiệu, bên blog Dưa Leo có loạt bài này rất hay: Đời này không nhứt thiết phải học ĐH Phần 1, Phần 2. Hay như trong đời sống người thường, cái thói chọn đồ hiệu đắt tiền (ví dụ giỏ LV) mà mang/mặc cái đã không cần biết đến món đồ đó có phù hợp với ngoại hình (những thứ trang phục khác) và lứa tuổi hay không.
Bác tuan nói lý do chính của thói hám danh, khoe mẽ là do mặc cảm tự ti của người châu Á nói chung và người Việt Nam nói riêng là đúng hoàn toàn về bản chất. Chính vì do mặc cảm thua thiệt người khác nên chúng ta mới phải dựa vào những chỗ dựa (được cho là) vững chắc như bằng cấp, danh hiệu quốc tế, thành tựu vân vân. Đó là lý do vì sao chúng ta có học sinh, sinh viên đoạt giải Olympic Toán quốc tế, thí sinh thi cờ vua nhưng một thanh niên tốt nghiệp Đại học lại thiếu những kỹ năng cơ bản như viết văn bản, đơn từ hay giao tiếp, trình bày với người lạ mặt chưa nói đến có trình độ có kỹ năng cho công việc. Một khi ai đó đoạt giải quốc tế (ví dụ như thí sinh đoạt giải Miss này nọ của quốc tế, học sinh đoạt giải Olympic, đội tuyển đoạt giải quốc tế…) thì bộ máy truyền thông thực hiện rất tốt khi đưa những tin đó lên hầu hết các tờ báo phổ thông. Nói thế không có nghĩa là thờ ơ với những con người ra sức vì đất nước đoạt giải quốc tế mà điều này giống như con dao hai lưỡi. Một mặt nhờ đó mà nó thúc đẩy lòng tự hào dân tộc, hướng con người ta chú trọng đến nội địa nhiều hơn tư tưởng hướng ngoại nhưng đồng thời, nếu quản lý không tốt sẽ sinh ra thói chú trọng danh hiệu, bằng cấp và có thể dẫn đến những tiêu cực để có được những danh hiệu, giải thưởng đó hơn là vì mục đích rèn luyện, giao lưu và chia sẻ kinh nghiệm. Ngay cả những giải thể thao thi đấu dành cho trẻ em thì cũng có hiện tượng tiêu cực gian lận tuổi. Điều đó chứng tỏ người ta chú trọng đến danh hiệu (và giải thưởng) hơn là nỗ lực và niềm vui khi tham gia thi đấu!
Hoặc nghiêm trọng hơn là việc phát triển không đồng đều giữa các tuyến mà ngành giáo dục đang đối mặt là minh họa rõ ràng nhất. Chúng ta có những đội tuyển thi Olympic quốc tế và (cứ cho là) trong những năm tới chúng ta thực sự có trường Đại học đạt đẳng cấp quốc tế (world class university - or what the hell it is I don’t even know) nhưng chúng ta chưa đảm bảo được hạn chế (hoặc xoá bỏ) được hiện tượng trẻ “ngồi nhầm lớp” hay trẻ bỏ học giữa chừng, đảm bảo việc đội ngũ sinh viên ra trường có năng lực thực sự phục vụ cho những ngành nghề cần thiết thì cái mác Olympic quốc tế hay “ĐH Đẳng cấp Quốc tế” để làm gì?? Có lẽ chưa đâu như ở VN lại có những trường Cao đẳng cứ chăm chăm nâng cấp lên ĐH như ở VN. Những trường Cao đẳng hay qui mô thấp hơn là những trường Trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề có mục tiêu và phương hướng khác hẳn những trường Đại học. Nếu như ở nước ngoài, các trường Cao đẳng có nhiệm vụ đào tạo kiến thức cơ bản cho học sinh (một phần) và đào tạo nghề cho các học sinh phục vụ cho việc làm người học cần (một phần). Do đó hệ Cao đẳng chỉ cần 2-3 năm (AA) là có thể đủ để đi kiếm việc làm. Trong khi đó ĐH yêu cầu người học có nghiên cứu chuyên sâu hơn về ngành nghề mình muốn làm trong tương lai nên cần đến 4-5 năm (BA).
Trong khi đó ở VN, hầu hết các trường Cao Đẳng đi theo hướng khá giống với các trường ĐH và sau đó vài năm thì nâng cấp lên bậc ĐH. Việc nâng cấp lên ĐH này cũng là nguyên do một phần từ thói hám danh của những nhà quản lý trường và cũng từ tâm lý người học: danh hiệu “trường ĐH” sẽ có thể thu hút nhiều học viên đến học ở trường hơn và một lý do quan trọng (và nhạy cảm) hơn cả là cơ hội tiếp nhận nhiều nguồn ngân sách và dự án từ Nhà nước và tư nhân nếu mang tư cách là một trường Đại học hơn là tư cách Cao đẳng. Theo cá nhân tui nghĩ, nếu có một phương án marketing và lobby thích hợp (và tất nhiên là có một khả năng đào tạo tốt) thì một trường Cao đẳng cũng có thể có cơ hội thu hút dự án và ngân sách từ tư nhân, địa phương giống như là khi mang danh trường Đại học. Ý tui là, cái quan trọng là khả năng và mục tiêu của trường được biết đến trong cộng đồng chứ không phải dựa vào cái danh hão “trường ĐH”.
Với một lý do tương tự (là thói hám danh hiệu) ta có thể thấy tại sao nhiều nhà báo lại quan tâm so sánh giữa chuyện phim VN và những giải thưởng điện ảnh nổi tiếng như Oscar, LHP Cannes, LHP Berlin, LHP Venice…và nhiều người tự hỏi là tại sao phim Việt vẫn chưa có mặt tại những LHP, giải thưởng điện ảnh quốc tế lớn. Câu hỏi này đạo diễn Bùi Thạc Chuyên đã trả lời rất thỏa đáng trong một phỏng vấn ông nhân dịp phim Chơi Vơi tham gia LHP Venice. Rõ ràng chúng ta chưa có một nền công nghiệp sản xuất phim đủ mạnh để có thể mỗi khi có LHP lớn thì có đại diện VN. Muốn làm được điều đó chúng ta phải có chiến lược phát triển ngành điện ảnh một cách bài bản có nền tảng.
Theo tui nghĩ, bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào, cho dù là một bộ phim, một bức tranh vẽ, một bức ảnh chụp, một ca khúc hay một bài thơ được sáng tác ra cũng để đáp ứng nhu cầu của những đối tượng nhất định (ở đây tạm gọi là khán giả) trước nhất chứ không phải chỉ dành cho mục tiêu (được cho là) quan trọng: giải thưởng. Do đó, chúng ta cứ mải mê theo đuổi những giải thưởng lớn (phần ngọn) mà quên mất đi chúng ta chưa có được một đội ngũ diễn viên hùng hậu, đội ngũ biên kịch và đạo diễn có chất lượng (phần gốc) thì chạy theo những giải thưởng lớn đó là một cuộc chơi quá tầm với. Người Việt Nam tuy có tính hám danh nhưng lại có tính xuề xòa và nóng vội. Những gì đi theo bài bản, thứ tự thì cho là làm ra vẻ và muốn mọi chuyện giản dị cho xong chứ không muốn đi theo thứ tự bài bản. Tính này cộng với sự nóng vội, nôn nóng muốn có thành tựu để thỏa mãn cái thói “hám danh hão” đã giết chết biết bao nhiêu dự án tiềm năng không chỉ riêng ngành điện ảnh mà còn ở nhiều lĩnh vực khác.
Một ví dụ khác không liên quan nhưng tui cũng muốn nói để thấy hiện tượng này diễn ra ở bất kỳ lĩnh vực nào. Nếu nhìn vào những tác phẩm nhiếp ảnh của các nhiếp ảnh gia ta không khó nhận ra những chủ đề tương tự trước đó: các cụ già nhăn nheo ngồi bên bếp lửa khói bốc lên, trẻ em dân tộc cười nói, dắt trâu về trên đường mòn…Trong khi đó một sinh viên nước ngoài chỉ cần theo mẹ con người hành khất cũng đã có những bức ảnh tuy giản dị (nhiều tấm còn chưa rõ nét) nhưng lại mang nhiều tính nhân văn. Chính vì khi sáng tạo nghệ thuật, chúng ta đã có đầu óc cho tác phẩm của mình mang đi dự thi để đoạt giải và sáng tạo theo “định hướng” của tiêu chí giải thưởng hơn là tự do sáng tạo. Và chính vì lẽ đó chúng ta đã tự hạn chế khả năng sáng tạo của mình rồi.
Lấy một ví dụ khác từ báo chí viết về bưởi Phang (xin bưởi bỏ qua, don’t take it personal nghen hehe) là nếu trên báo còn những dòng viết “Phanxine, một đạo diễn trẻ đang tu nghiệp tại ĐH danh tiếng USC của Mỹ” mà nhiều người đọc (theo tui đoán) còn không biết USC là cái mốc gì (nhân tiện cũng giải thích luôn, USC là University of Spoiled Children hehehe) thì sẽ còn rất lâu để khắc phục hiện trạng này. Cái quan trọng nhất hiện nay của chúng ta là việc có đủ tỉnh táo để tự nhận thức là mình đang đứng ở đâu hơn là chạy theo những thành tích và danh hiệu hão không trọng lượng. Trẻ em “ngồi nhầm lớp” thì được người lớn đặt lại cho đúng chỗ còn khi người lớn tự huyễn hoặc vị trí của mình thì ai sẽ đặt người lớn đúng chỗ đây?

Đầu tiên, em xin có nhời xin lỗi bác, mong linh hồn bác tha thứ cho em vì móc méo cái nhan đề ở trên. Gần đến ngày giỗ bác em cũng muốn kiêng kỵ có điều nhỏ lớp chưởng lớp 5a Minh Minh tên ở nhà là Út mén nó lại khơi lên làm em ngứa nghề cái tật bút tre của em ra thành ra em lại đi nhại bác. Mong bác thư thá. bác có phê bình gì thì qua phê bình nó chứ em không có lỗi. Nhân đây em cũng xin nói luôn là em cũng không phải là thằng đánh cắp nỏ thần ạ và lớp 5b của em có mỗi thằng Trần Văn Lai chứ chả có thằng nào họ Lê tên Lai ạ. (nhân tiện nếu bạn Vú Lép Vous Le có thắc mắc tại sao mình không viết hoa từ bác thì bạn i meo cho mình để mình fọc wớt i meo cho bác ấy trả lời nhé).
Read More