Linh tinh giáo dục

  1. Posted 3 months agoComments & 1 noteSeptember 11th, 2009

    Bên blog bác Tuan có bài này hay: http://tuanvannguyen.blogspot.com/2009/09/nguyen-nhan-khung-hoang-giao-duc-bac-ai.html.

    Bản gốc :

    http://www.hks.harvard.edu/innovations/asia/Documents/HigherEducationOverview112008.pdf

    Bác Tuan trích lại những câu mang tính then chốt trong bài nghiên cứu:

    Tình hình hiện tại:

    “Phát triển kinh tế ở Đông và Đông Nam Á cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển và giáo dục đại học. Mặc dù mỗi một quốc gia thịnh vượng nhất trong khu vực này – Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và gần đây là Trung Quốc - đã đi theo những con đường riêng của mình, nhưng có một điểm chung trong sự thành công của họ là họ đã chuyên tâm đeo đuổi một nền giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Những quốc gia kém thành công hơn trong khu vực Đông Nam Á – Thái Lan, Philippines, Indonesia – cho chúng ta một câu chuyện cảnh giác. Các quốc gia này thường không đạt chất lượng cao trong giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học, và họ đã thất bại trong việc phát triển những nền kinh tế hiện đại. Đây là một điều không lành cho tương lai của Việt Nam, bởi các trường đại học Việt Nam tụt lại khá xa đằng sau ngay cả những láng giềng kém mở mang của mình”

    “Việt Nam không có dù chỉ là MỘT trường đại học có chất lượng được công nhận.”

    “Đại học Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao động có đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam.”
    “Trái với những sinh viên Trung Quốc và Ấn Độ, sinh viên Việt nam thường khó cạnh tranh để chiếm một xuất học bổng tại các chương trình giáo dục trên đại học tinh túy tại Mỹ hay Châu Âu.”

    Đâu là nguyên nhân?

    Di sản của lịch sử: “Những vấn nạn Việt Nam đang phải đối đầu trong hệ thống giáo dục đại học ngày nay một phần là do hậu quả từ một lịch sử cận đại bi thảm của đất nước này.”
    Chính sách quản lí: “Nguyên nhân hiện đại tạo nên khủng hoảng là sự thất bại sâu rộng trong chính sách quản lý của Nhà Nước.”

    Bị kiềm chế: “Tất cả các học viện tại Việt Nam đều phải chịu sự kiểm soát của một hệ thống quản lý tập trung cao độ.”

    Tham nhũng: “Tham nhũng tràn lan và ai cũng biết bằng cấp và tước vị là những thứ có thể mua bán tràn lan. Hệ thống nhân viên cán bộ thì mập mờ và mọi sự thăng thưởng đều dựa trên những tiêu chuẩn bên ngoài khả năng học thuật, như mức độ thâm niên, lai lịch chính trị, lai lịch gia đình, cũng như sự móc nối cá nhân.”

    Khác biệt thế hệ, đố kị: “Giảng viên các Khoa và Ban quản trị cao cấp của hệ thống đại học có khuynh hướng bị thống trị bởi những cá nhân được huấn luyện từ Liên Xô hoặc Đông Âu, không nói được Anh ngữ và trong không ít trường hợp, tỏ ra ác cảm với các đồng nghiệp trẻ tuổi hơn được giáo dục từ Tây Phương.”

    Vô trách nhiệm: “Đại học Việt Nam không phải báo cáo hoặc chịu trách nhiệm trước các cổ đông bên ngoài, cũng như trước cán bộ công nhân viên bên trong.”

    Chính trị hóa: “Ngay cả khi so sánh với Trung Quốc, đại học Việt Nam tỏ ra nổi bật về mức độ kiến thức bị kiểm soát. Ngay cả khi các trường đại học đã được nhận một không gian thông thoáng hơn, một mạng lưới kiểm soát chính thức cũng như trá hình vẫn còn vây bọc, khiến các trường đại học Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị bóp nghẹt về tri thức, trong khi công chúng đang phản ứng ngày càng lớn.”

    *************

    Trên đây là mức độ khủng hoảng và những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng của giáo dục bậc đại học của VN hiện nay. Về mức độ khủng hoảng, ai cũng biết tình trạng của giáo dục VN nói chung và giáo dục đại học nói riêng đang lâm vào khủng hoảng khá trầm trọng nhưng lại không biết chính xác là trầm trọng như thế nào. Hai bảng số liệu trong bài gốc phần nào cho thấy sự trầm trọng đó. Hơn nữa, nếu số liệu thống kế về số lượng sinh viên làm việc đúng ngành nghề mình học (tui hiện không có nhưng tui nghĩ là có số liệu này) thì sẽ tạo nên một bức tranh rõ ràng hơn.

    Còn những nguyên nhân gây ra tình trạng này, đối với những người am hiểu tình trạng giáo dục VN thì không mới, còn có thể áp dụng được với cả các bậc giáo dục thấp hơn chứ không riêng gì bậc đại học. Bên cạnh những nguyên nhân này còn có một nguyên nhân cơ bản hơn nhưng ít được người ta chú ý là hệ thống giáo dục các bậc thấp hơn (hay tóm gọn là bậc phổ thông) cũng khủng hoảng trầm trọng không kém. Người ta thường nói giáo dục VN là “Nhà dột từ nóc” nhưng theo tui nền giáo dục VN cũng đang chịu khủng hoảng từ gốc rễ tức các bậc giáo dục cơ bản phổ thông như cấp tiểu học, trung học. Chính tư duy giáo dục cũ kỹ, lạc hậu hay tạm gọi thẳng thắn hơn là tư duy “đọc-chép” đã hình thành một thói quen ì trong tư duy học tập, trong cách tiếp cận vấn đề của mỗi học sinh. Ngay cả khi được hứa hẹn khi lên bậc đại học thì tư duy và thói quen học tập sẽ phải thay đổi, sẽ tự túc tự học nhiều hơn nhưng quá trình lâu dài (12 năm) “đọc-chép” không dễ dàng thay đổi ngay được. Do đó, mặc dù tự hào về hệ thống thi cử đầu vào cho bậc đại học còn giữ được mức chất lượng cao (theo như bài nghiên cứu trên của Vallely-Wilkinson) nhưng lại không đảm bảo được việc tinh tuyển được những tư duy học tập tiến bộ dành cho bậc đại học. Chính những kỳ thi đại học nặng nề khiến cho thí sinh đối phó với nó càng làm tư duy học tập kiểu cũ nặng nề hơn và có thể phần nào loại bớt những tiềm năng trong số những thí sinh không vượt qua được nó bởi những lý do nào đó. Để thay đổi tư duy học tập cần có phương pháp học thuật mới, một mạng lưới giáo viên cấp thấp có tư duy mới và nội dung giảng dạy phù hợp, nhất quán và mang tính tiếp nối đến chương trình đại học. Nếu muốn xây dựng một trường đại học kiểu mới làm kiểu mẫu cho những trường khác thì cũng phải xây dựng cả những trường kiểu mới ở bậc thấp hơn. Và số lượng những trường bậc thấp mới này phải nhiều hơn số trường đại học kiểu mới.

    Một nguyên nhân quan trọng không kém khác ngoài những nguyên nhân kể trong bài là xuất phát từ văn hóa và tập quán của người VN. Người VN có truyền thống “hiếu học” do đó số lượng trường đại học và những chương trình đạo tào bậc cao hiện giờ quá nhiều. Tuy vậy cũng do bản tính của người VN khá sĩ diện hão nên số lượng lớn đó lại không nâng cao được chất lượng đào tạo mà trái lại phần lớn có chất lượng thấp, chủ yếu để giải quyết nhu cầu danh dự “bằng cấp” để được vị nể trong xã hội hơn là nhu cầu học tập nghiên cứu thực sự. Hơn nữa, một tầng lớp học giả, nghiên cứu sinh hướng đến bằng cấp cao (thạc sĩ, tiến sĩ) để mong thăng tiến đến các vị trí cao hơn là có tư duy nghiên cứu khoa học nghiêm túc. Do đó, tầng lớp này lúc còn là nghiên cứu sinh thì đều là tiềm năng quan trọng nhưng khi đã có bằng cấp cao thì lại tự mãn và đánh mất cơ hội tiếp tục nghiên cứu. Số này nếu trở thành tầng lớp giảng viên đại học dần đánh mất khả năng tự học hỏi, cập nhật kiến thức mới mà chỉ sử dụng giáo trình và kiến thức cũ kỹ trong quá trình giảng dạy. Hơn nữa, tâm lý thầy phải hơn trò phần nào gây nên sự suy giảm chất lượng qua các thế hệ.

    Mặt khác, việc sĩ diện hay ở bài trước gọi là háo danh còn tạo ra xu hướng “nâng cấp” lên đại học bằng mọi giá ở những trường cao đẳng, nhất là hệ thống cao đẳng sư phạm ở các tỉnh. Và các trường trung học chuyên nghiệp thì nhao nhao “nâng bậc” lên cao đẳng. Quá trình nâng cấp này diễn ra vội vàng và không kèm theo sự chuẩn bị chu đáo về lực và lượng dẫn đến sự suy giảm chất lượng trong đào tạo đại học, sinh viên sau khi tốt nghiệp không đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế đang đòi hỏi ngày càng cao.

    Thêm một nguyên nhân quan trọng khác mà bài nghiên cứu chỉ phớt qua là ở việc “tự do trong giáo trình” hay nói một cách cụ thể hơn là chương trình giảng dạy (cirriculum) và sách giáo khoa (text-books). Mạng lưới kiểm soát tri thức trong các trường đại học phần nào duy trì chương trình giảng dạy cũ kỹ, sách giáo khoa không có độ cập nhật cao khiến những kiến thức được giảng dạy là những kiến thức cũ kỹ lạc hậu. Cải tổ chất lượng giáo dục ngoài việc cải tổ học thuật qua việc thay đổi tư duy đào tạo và học tập ở giảng viên và học sinh ra còn phải là sự cải tổ về hệ thống sách giáo khoa (nội dung) và chương trình giảng dạy (cơ cấu). Chính việc cải tổ cơ cấu và nội dung đào tạo bảo đảm cho những câu hỏi học cái gì? học như thế nào? khối lượng kiến thức trong chương trình ra sao? khả năng tiếp thu của học viên thế nào? Việc cải tổ cơ cấu và nội dung đào tạo này càng phải được áp dụng song song ở cả những bậc giáo dục thấp hơn như cấp tiểu học, trung học.

    Tác giả Vallely-Wilkinson nhấn mạnh nguyên nhân từ cách thức quản lý nhà nước, mà cụ thể hơn là vào vấn đề tự trị tự quản đại học (Autonomy) và quá trình phân quyền (de-centralization) trong hệ thống giáo dục. Như mọi ban ngành khác, hệ thống giáo dục đại học VN chịu sự quản lý tập quyền (centralized) nặng nề. Ngoài những ảnh hưởng kể trong bài, sự quản lý tập trung hệ thống giáo dục thường chú trọng vào những tổ chức quản lý giáo dục đại học ở những thành phố lớn như Hà Nội và TPHCM (như mô hình ĐH Quốc Gia HN, ĐHQG TPHCM) mà giảm nhẹ phát triển những đại học vùng ở địa phương các tỉnh khác. Chính sự tập trung này phần nào đã dẫn đến sự mất cân đối vùng miền như hiện nay kể về phát triển kinh tế xã hội lẫn cơ cấu dân số. Nếu có phân quyền và tự quản tự trị giáo dục thì những trường đại học địa phương có nhiều cơ hội hơn để tự phát triển và phần nào cạnh tranh (về tuyển sinh) với những trường đại học ở các thành phố lớn.

    Việc quản lý tài chính kế toán độc lập cũng giúp cho các trường ngoài khả năng sử dụng ngân sách nhà nước còn có việc thu hút các nguồn tài trợ từ bên ngoài doanh nghiệp, các tổ chức, các quỹ nghiên cứu để thu hút giảng viên giỏi, nâng cao cơ sở vật chất hạ tầng được tốt hơn. Ở Việt Nam vẫn chưa có (hoặc có quá ít) những mối liên hệ của trường đại học với doanh nghiệp tư nhân, quỹ đầu tư, quỹ nghiên cứu khoa học. Chính sự thiếu hụt này làm cho trường đại học mất đi cái nhìn cấp thiết về nhu cầu lao động ở bên ngoài và thiếu sự dịch chuyển trong cơ cấu cũng như chương trình giảng dạy cho phù hợp với nhu cầu thực tại. Hơn nữa, việc nâng cao chất lượng của các chương trình nghiên cứu khoa học trong trường nếu áp dụng hiệu quả cho các doanh nghiệp bên ngoài thì rất có thể được sự đầu tư, tài trợ từ những doanh nghiệp đó và nhất là hoàn toàn có thể tạo ra cơ hội việc làm tại những doanh nghiệp đó cho những sinh viên tham gia nghiên cứu. Điều tương tự với các quỹ đầu tư và nghiên cứu.

    Tuy vậy, hoạt động dưới sự quản lý tập quyền nhiều năm thì việc “cởi trói” ngay lập tức cũng có thể gây nên nhiều khó khăn trong việc định hướng phát triển và chất lượng giáo dục ở các trường tự quản. Do đó, ban quản lý trung ương cần đề ra những tiêu chuẩn nhất định trong đường hướng phát triển của các trường nhưng chỉ ở mức cố vấn gợi ý chứ không nên can thiệp sâu vào hoạt động của trường. Cần có những giai đoạn chuyển tiếp/đệm trong đó để lực lượng giảng viên và nhất là ban quản trị cao cấp của các trường quen với tình hình mới. Tất nhiên, quá trình “đệm” này nhanh hay chậm là tuỳ thuộc vào khả năng thích ứng nhạy bén cùng những điều kiện khách quan khác ở mỗi trường. Vai trò của các chuyên gia nước ngoài trong quá trình này là cực kỳ quan trọng, nhất là chia sẽ kinh nghiệm quản lý trong việc tự trị tự quản giáo dục.

    Về vấn đề hợp tác quốc tế, các trường đại học VN chưa có được một mối liên hệ quốc tế với các trường khác, nhất là phương diện nghiên cứu khoa học. Nói ngắn gọn là nghiên cứu khoa học chưa đồng bộ được mặt bằng chung với các trường đại học ở các nước xung quanh để có thể gửi kết quả nghiên cứu cho những trường ở nước khác phân tích, đánh giá. Các nghiên cứu (research) hay những bài viết (publications) từ các trường VN chưa được đánh giá cao trong cộng đồng học thuật (peer-review). Do đó, chương trình đào tạo của các trường đại học VN không đồng bộ (và do đó không được đánh giá cao) với các trường trong khu vực.

    Trong bài đề cập rất hay đến hiện tượng trao đổi giáo dục quốc tế. Hiện nay, với chế độ lương bổng, chế độ hậu đãi và điều kiện làm việc kém, ngay cả tầng lớp sinh viên du học trở về nước cũng từ chối cộng tác cho những trường đại học công lập VN chứ đừng nói đến những chuyên viên giáo dục nước ngoài. Chính sự “cởi trói” để phân quyền trong hệ thống giáo dục làm cho các trường đại học có thể thu hút nhiều vốn đầu tư từ bên ngoài và nhờ đó có những chính sách lương bổng và hậu đãi tốt hơn dành cho các trí thức chuyên gia VN được đào tạo ở nước ngoài. Song song bên cạnh đó thì phải có chính sách quản lý dựa trên cơ sở tôn trọng và đãi ngộ tốt năng lực của tầng lớp trí thức này, giúp họ yên tâm công tác trong lĩnh vực đào tạo.

    Các chương trình hợp tác hiện nay chỉ mang tính chất cá thể quy mô nhỏ và thường mang mục đích thu lợi nhuận, như bài viết đã nói. Việc hợp tác với các trường đại học quốc tế còn tuỳ thuộc vào mục đích và tiêu chí của những trường quốc tế đó thế nào. Lấy ví dụ những trường đại học ở Mỹ, nơi có hệ thống giáo dục phân quyền khá triệt để, những trường đại học công lập chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của địa phương, mục tiêu phát triển ra thế giới (để có thể liên kết với VN) còn tuỳ thuộc vào ban lãnh đạo và ngân sách bang. Trong tình hình kinh tế suy thoái, ngân sách thâm thủng như hiện nay, để có suy nghĩ phát triển hợp tác quốc tế cũng là một vấn đề cần cân nhắc kỹ. Đối với những trường tư thục tuy có nguồn ngân sách thoải mái hơn chút ít nhưng để hấp dẫn họ, các trường đại học VN phải có cùng những thứ họ quan tâm (như chương trình nghiên cứu đồng bộ đã nói ở trên).

    Giống như các kết luận ở những nghiên cứu của các ngành khác, nguyên nhân chủ chốt cũng là ở cung cách quản lý điều hành của chính quyền và biện pháp là cải tổ cách điều hành ấy. Bài viết còn nêu ra biện pháp xây dựng một “học viện đào tạo đại học mới”. Còn trong phần nhân tố quốc tế, bài viết trên lại không đề cập đến những trường quốc tế 100% hoạt động tại VN (ví dụ trường RMIT). Trong giai đoạn “đệm” như đề cập ở trên, vai trò của những trường này là cực kỳ quan trọng. Trong khi chưa xây dựng một trường đại học kiểu mới có chất lượng, những trường quốc tế như RMIT trên phương diện nào đó cũng có thể là mô hình cho những trường đại học VN học tập. Hiện nay, xây dựng một học viện đào tạo đại học có mô hình quản lý tiến bộ và năng động làm mô hình mẫu thúc đẩy cải tổ trong cách quản lý những trường đại học hiện có là hoàn toàn cần thiết, và chưa nên bàn vội đến những mỹ từ “chất lượng” hay “đẳng cấp thế giới” làm gì. Nhưng điều cơ bản cốt lõi nhất, theo tui nghĩ, chính là nhân tố con người, hay cụ thể hơn là cải tổ tư duy giáo dục hiện nay. Cải tổ nền giáo dục, theo như bài viết, là một quá trình lâu dài. Để chuẩn bị cho việc xây dựng đại học kiểu mới thì phải trước hết hay ít ra là song song cải tổ tận gốc rễ tư duy giáo dục ở những bậc thấp hơn từ tiểu học đến phổ thông trung học (từ học sinh đến giáo viên và cả những nhà quản lý giáo dục cao cấp). Chính sự cái nền tảng cơ bản này có phát triển vững chắc thì việc vận hành đại học kiểu mới có thể hoạt động trơn tru được. Nhưng đây là một quá trình rất lâu dài. We’ll see.

Tags : educationthoughtsnews

Tại sao phải đọc sách ?

  1. Posted 6 months agoComments & 4 notesJune 4th, 2009

    Bên nhà bưởi Marcus có bài này: Tác dụng của việc đọc sách, trong đó nhắc đến đề thi Ngữ Văn (à bây giờ người ta chuyển tên của môn Văn-Tiếng Việt thành Ngữ văn rồi) có ra một đề mở về tác dụng của việc đọc sách. Trong bài blog của Marcus có dẫn link qua bài báo Thanh Niên đăng vắn tắt gợi ý giải đề môn Ngữ văn, riêng phần gợi ý cho cái đề mở kia cũng có những ý chính sau mà mỉa mai thay nếu bài nào không có những ý này thì dám sẽ bị trừ điểm ít nhiều:

    - Tác dụng của việc đọc sách:

    + Cung cấp thông tin, tri thức mọi mặt.
    + Bồi dưỡng giáo dục, nâng cao khiếu thẩm mĩ.
    + Giáo dục đạo đức, tình cảm, hoàn thiện bản thân.
    + Đọc sách là cái đích hướng đến của tất cả mọi người trong khát vọng chinh phục tri thức.

    Ở đây không bàn đến những những từ ngữ nặng nề mang nặng tính hình thức và giáo điều hơn là suy nghĩ của mỗi cá nhân về chuyện đọc sách mà hỏi tại sao chúng ta lại đọc sách ? Bên blog Marcus cũng chỉ ra đường link đến bài viết “Tại sao tôi đọc tiểu thuyết” bên yxine. Bài viết đó tất nhiên là viết nhẹ nhàng mà chân thật hơn và dễ đồng cảm rất nhiều những gợi ý giáo điều của cái đề Ngữ văn ở trên. Đến đây thì lại quay trở lại câu hỏi ban đầu: “Tại sao lại phải đọc sách?”. Có thể nhiều người sẽ nhảy vào trả lời nhiều lý do thế này thế nọ, và ngoài câu trả lời kiểu “đọc sách để người ta biết mình biết chữ” thì thế nào cũng sẽ có những câu trả lời ” để nâng cao kiến thức” hay “để giải trí”. Vụ “nâng cao kiến thức” thì có thể chia làm hai loại: một loại là sách giáo khoa loại kia là sách tham khảo. Sách giáo khoa thì ta bắt buộc phải đọc qua (có thể không cần đọc hết) vì đó là yêu cầu của lớp học. Sách tham khảo ở đây dĩ nhiên không phải kiểu sách tham khảo Tập làm văn mà là sách viết về những chủ đề những đề tài đáng quan tâm, ta đọc để “nâng cao kiến thức”. Ví dụ như phim Angels & Demons ra mắt, có nhắc đến những vấn đề thú vị như lịch sử Vatican và các hội kín, nghi thức bầu cử Giáo hoàng vân vân nên ai đó thích những đề tài này thì có thể tìm kiếm những cuốn sách thuần kiến thức để tìm hiểu thêm.

    Ở Mỹ có một nét văn hóa là khi con người ta không biết tí gì về một vấn đề gì thì người ta đi học: từ học nấu ăn, học lặn, học vẽ, học đàn cho đến những thứ nhỏ nhặt hơn là học sửa điện trong nhà, học vi tính (nếu chưa biết dùng). Nếu người ta không có thời gian học và những đề tài không dùng để áp dụng thì người ta tìm đến việc đọc sách nói về đề tài đó. Người ta có thể tìm được sách nói về bất cứ đề tài nào. Mỗi thành phố đều có riêng một thư viện công cộng, nếu thư viện này không có sách đó họ sẽ giới thiệu sang thư viện ở thành phố khác, nơi có cuốn sách cần tìm. Không thì ra ngoài tiệm sách mua, không nữa thì lên amazon.com. Nói chung tìm cuốn sách mình quan tâm không khó, khó nhất là thời gian để đọc hết chúng. Càng sống lâu càng thấy mình không có thời gian làm những điều mình muốn (mà những điều mình muốn làm thì quá nhiều).

    Nói “đọc sách để giải trí” cũng có thể gần với tinh thần của bài viết trên yxine hơn. Nói cách khác thì có thể là “Đọc sách để đọc sách thôi, đọc sách như một sở thích. Nếu anh thích nghe nhạc, xem phim thì tui thích đọc sách. Thế thôi. Cần gì phải nói để thế này để thế nọ nhỉ?” Ở đây cũng phải nhắc đến xu hướng “hùa” của người Việt ta là thấy nhiều người đọc sách này cũng đi kiếm đọc để biết thế nào (xu hướng này không chỉ riêng ở chuyện đọc sách mà còn xảy ra ở bất cứ lĩnh vực nào). Bỏ qua chuyện đó thì sở thích đọc sách rất đáng hoan nghênh. Nhưng nếu nói đọc sách nhiều thì dễ xa rời thực tiễn, nói ít làm nhiều thì chưa chắc. Những người thích đọc sách có thể có trí tưởng tượng phong phú hơn, có nội tâm mạnh mẽ hơn những người không thích đọc nhưng để nói xa rời thực tế, ít friendly với xã hội thì tùy thuộc vào tính cách hơn là do sở thích đọc sách. Sở thích đọc sách này giúp người ta có hứng thú và đôi khi tiếp thu những điều sách nói tới hoặc tiếp thu được “tác dụng” của việc đọc sách một cách vô tình. Rõ ràng nhất là nhiều thứ đi vào đầu mình lúc nào không hay. Tự nhiên đến lúc nó lại nhảy ra trong đầu.

    Thứ nữa là cách viết văn. Tui có nói là nhu cầu đọc của con người ta, ít ra là những người tui biết trên blog, rất cao. Do đó họ mới làm blog, để viết và để đọc người khác viết. Có những người tui biết có sở thích đọc sách rất điên cuồng như bạn Moonie, bạn Minh Thi, bạn Pink Martini giừ hơn chút là cha Nhị Linh và rất nhiều người khác nữa (những movie pals như Mất Dép, Phanxine, Poly hay Marcus cũng đọc sách rất nhiều). Và cũng thật bất ngờ là thời hiện nay mà vẫn còn nhiều con người thích đọc sách như vậy. Những người này đọc sách nhiều nên văn phong họ rất hấp dẫn và trau chuốt một cách tự nhiên. Lúc nhỏ tui được dạy là đọc sách sẽ giúp viết văn tốt hơn (cái gợi ý tác dụng ở trên không thấy nhắc đến nhỉ?) nhưng do tui hay cuốn theo tình tiết trong sách (truyện) mà quên mất câu cú nó viết thế nào nên văn vẫn dở. Nhưng ít ra cho đến giờ này không có nhiều cơ hội viết tiếng Việt mà tui vẫn không viết sai chính tả hehe.

    Tóm lại, không bàn đến những tác dụng “đao to búa lớn” ở trên, việc con người ta đọc sách chẳng qua là vì sở thích, ngay cả ở những sách tham khảo cũng chính là sở thích về đề tài được nhắc đến trong sách thì mới đi tìm sách mà đọc. Còn những tác dụng nói trên, cộng thêm vài tác dụng khác nữa thì nó đến với ta một cách tự nhiên, không phải vì ta muốn những tác dụng đó thì mới đi kiếm sách mà đọc. Giống như không phải để có con thì mới mần nhau, nhiều khi mần nhau rồi có con là ngoài ý muốn. Hehe, tóm lại các bạn nghĩ “đọc sách là để làm gì?” (câu còm măng trắng trợn).

    P.S 1: nhân đây xin có đôi điều với bạn tác giả moonfish trong bài “Tại sao tôi đọc tiểu thuyết” ở yxine. Bạn đem Tây Du Ký đặt cạnh Harry Potter thì tui thấy không thỏa đáng cho Ngô Thừa Ân quá. Chắc bạn nghĩ là Tây Du Ký chỉ có tác dụng như sách giải trí như kiểu Harry Potter và đọc dễ dãi như ăn kẹo dẻo? Nếu nghĩ như thế thì chắc bạn chưa đọc Tây Du Ký quá, hic hic. Tây Du Ký (truyện) có lồng rất nhiều những bài thơ chứa nhiều nội dung mang tính ẩn dụ. Thậm chí cả tác phẩm mang nội dung ẩn dụ và châm biếm nên theo cá nhơn tui nghĩ là nó mang giá trị văn học cao hơn nhiều lần so với Harry Potter. Tuy truyện có tình tiết thần thoại hấp dẫn (nhất là đối với con nít) nhưng những cuốn Tây Du Ký đọc không hề dễ như ăn kẹo dẻo tí nào huhu.

    P.S 2: Blog Nhị Linh có dẫn một link vào bài viết tiếng Anh của Đinh Linh trên blog NYTimes: LINK nói về chuyện “story-teller” kiểu cũ và TV (một đại diện của truyền thông bây giờ). Bài tiếng Anh nói việc story-teller truyền thống với TV nhưng trên TV cũng có những chương trình kể chuyện có minh họa như : Chuyện ngày xưa hay chương trình cho thiếu nhi thì cái nào tốt hơn? Cái này cũng khó mà trả lời. Chỉ biết những lúc offline hoàn toàn như cúp điện (ở đây cúp điện cũng có cái hay của nó), canh nồi bánh chưng hay ngồi bếp lửa trại thì story-teller truyền thống phát huy được sức mạnh của nó. Chả phải khi xưa việc in ấn còn đắt đỏ thì hầu hết các câu chuyện, kinh nghiệm sống đều được truyền miệng hay sao ?

    Cái này là bên lề nhưng thấy cũng dính dáng đến chuyện đọc sách. Trẻ con bây giờ không biết còn ai kể chuyện cho chúng nghe mỗi khi đi ngủ hay khi rảnh rỗi không? Tui có một may mắn, ít ra là may mắn hơn đứa em nhỏ của tui, là lúc nhỏ luôn được mẹ tui kể chuyện cho nghe mỗi buổi tối trước khi đi ngủ. Đôi lúc còn được nghe dì tui, khi đó là giáo viên mẫu giáo, và cô giáo mẫu giáo kể chuyện cho nghe. Mỗi khi buổi tối cúp điện (hai mươi mấy năm rồi giờ vẫn cúp điện buổi tối, nước nhà phát triển thật) hay buổi trưa ở nhà trẻ, được nghe kể một câu chuyện nào đó như Tây Du Ký, Thạch Sanh - Lý Thông, Phạm Công - Cúc Hoa hay truyện nước ngoài như Cô bé quàng khăn đỏ chẳng hạn. Mỗi lần nghe kể đều rất thích thú. Khi đã biết chữ thì lại tiếp tục tìm đọc những thứ đó. Do đó bây giờ nghĩ lại thời đó không có TV, Internet chưa chắc đã không tốt. Mai sau có lẽ sẽ tiếp tục truyền thống này đến thế hệ sau quá (nếu dành được thời gian).

Tags : newsthoughtsbooks

Angels & Demons

  1. Posted 6 months agoComments & 1 noteJune 3rd, 2009

    Link hình

    Angels & Demons là một tác phẩm nổi tiếng nữa của Dan Brown được dựng thành phim và cũng do Ron Howard thực hiện. Angels & Demons (sách) có thể nói là cuốn đầu tiên người đọc biết đến tên ông (dĩ nhiên tên tuổi ông này nổi tiếng toàn thế giới là bởi cuốn gây nhiều tranh cãi The Da Vinci Code) và cũng là cuộc phiêu lưu đầu tiên của Robert Langdon tiếp xúc với các bang hội kín ở châu Âu thời cổ. Trong phim ảnh đã từng có motif giáo sư đại học dùng kiến thức đi tìm cổ vật như Indiana Jones nhưng đối thủ của Indy chỉ là những tên lính Quốc xã, lực lượng địa phương hay những tên Bolsevik cùng thời chứ không phải như Robert Langdon tiếp xúc với những tổ chức, bang hội của châu Âu như Opus Dei, Priory of Sion (The Da Vinci Code), Illuminati hay cả toàn thể Vatican (Angels & Demons). Nếu so về ngoại hình và tính cách với vẻ bụi đời lãng tử mang dáng dấp của một “playboy” của Indy (được khắc họa rõ nét bởi Harrison Ford) thì Robert Langdon mô phạm hơn rất nhiều. Tuy vậy, cả hai đều có một lượng kiến thức đáng nể với chuyên môn của mình và chính nhờ đó mà họ có thể thoát hiểm để hoàn thành nhiệm vụ.

    Hết phần sơ lược giờ đi vô cái chính. Angels & Demons rút kinh nghiệm nhảm nhí của The Da Vinci Code nên đã chọn cách chạy đua với thời gian làm yếu tố chính của phim. Do đó nhịp phim được đẩy lên nhanh hơn rất nhiều. Thật ra trong truyện thì nhịp cũng nhanh lắm vì cha Langdon này cũng chạy bở hơi tai qua tượng điêu khắc này đến cái đài nước kia nhưng vì truyện dài mấy trăm trang nên còn có thời gian để tán dóc chuyện bên lề về mấy tổ chức nói ở trên và vì sao chúng lại thù ghét nhau và vì sao Vatican gặp nguy hiểm. Còn phiên bản phim chỉ có hơn 2 tiếng nên phải lược bỏ hết mấy phần bô lô ba loa dông dài đó trong truyện. Phong cách của Eagle Eye lại được áp dụng. Các nhân vật của chúng ta chạy từ chỗ này sang chỗ kia mà không hề có thời gian ngơi nghỉ tâm tình. Các tuyến nhân vật phụ không quan trọng lắm cũng được lược bỏ. Đây là nét chính để storyline của phim diễn ra hợp lý và gọn ghẽ hơn. Và nhờ thế phim trở thành một tác phẩm độc lập với truyện và trở nên hay hơn. Truyện của Dan Brown chủ yếu hấp dẫn là do sử dụng nhiều chi tiết có thật trong lịch sử dính dáng đến những chủ đề nhạy cảm và xâu kim lại với nhau để dẫn đến chi tiết hư cấu (phải công nhận kiến thức của Dan Brown và vợ rất đáng khâm phục) chứ về plot thì khá là lame nếu so với những bậc thầy sắp đặt tình huống như Robert Ludlum (The Bourne Trilogy), John Grisham hay James Patterson.

    Thật sự nếu ai đã xem truyện thì phim Angels & Demons không có gì bất ngờ cả do đó cũng ít nhiều mất đi nét hấp dẫn. Tuy nhiên, người đọc truyện vẫn muốn xem phim để xem những tác phẩm điêu khắc, các bức họa trên trần nhà ở các nhà thờ và điện thờ như Sistine Chapel của Michelangelo hay Bernini hay là “phi vật chất” được mô tả một cách khá thần thánh trong truyện. Đạo diễn Ron Howard đã không để những loại khán giả như vậy phải thất vọng khi mô tả rõ nét những landmark được nhắc đến trong truyện. Từ trung tâm nghiên cứu khoa học CERN ở Thuỵ Sĩ (nhất là quay cả cái máy quay li tâm (Hadron Collider) khổng lồ đặt dưới lòng thành phố Geneve cho đến từng tác phẩm điêu khắc và hội họa của các nghệ danh thời Phục Hưng như Michelangelo và Bernini đều có mặt trong phim. Và để thực hiện được những cảnh quay có những tác phẩm nghệ thuật này là một kỳ công khi mà Vatican đã sớm đề phòng khi không cho phép đoàn làm phim đến quay ở Vatican. Ngay cả những địa điểm ở Ý ngoài Vatican cũng bị họ dùng ảnh hưởng để cản trở. Do đó ngoại cảnh trong phim một phần vừa được quay thật ở ngoài một phần được máy tính dựng lên bằng công nghệ mới Photosyth (ai muốn biết thêm chi tiết thì qua blog bưởi Nê đọc, hoặc Wiki/Google). Tui có xem cọp qua cuốn Movie companion của Angels & Demons thì thấy nhiều tấm hình họ để phông xanh từa lưa hột mưa. Còn hình ảnh thì được các chuyên viên lưu manh giả danh khách du lịch để chụp hình nát bét các nơi ở Vatican: St. Peter’s Basillica/Square, Sistine Chapel…để máy tính dựng lại background. Và khi theo dõi phim thì khán giả không thể nhận thấy đâu là cảnh thật, đâu là CGI.

    Về mặt diễn xuất thì có thể nói các diễn viên đều đóng đạt vai trò của mình, ngay cả diễn viên đóng vai Vittoria. Hanks trở lại với vai Langdon có vẻ như tốt hơn so với Da Vinci Code (chắc do chạy nhiều hơn, bày tỏ nhiều cá tính hơn là đứng diễn thuyết với cái mặt ngao ngáo của Forrest Gump trong Da Vinci Code). Vai của Richter cũng khá, vai trò của Ollivetti thì không được nhấn mạnh (chứ không phải diễn viên diễn dở). Rõ ràng nhất là kịch bản dành một vị trí quan trọng cho vai Camerlengo của Ewan McGregor. Camerlengo của Toà thánh cũng giống như vai trò Tổng quản trong cung đình phong kiến Đông Á ngày xưa vậy. Chỉ có người thân cận của Giáo Hoàng/Hoàng đế mới được đảm trách vị trí này. Sao mỗi lần tui nghe thấy chữ Camerlengo là lại liên tưởng đến từ Consigliere (cố vấn trung tín) trong Bố Già à, chắc do đọc và vai trò cũng na ná vậy. Và anh McGregor này đóng rất đạt vai, khởi đầu từ từ và có phần steal the show ở khúc cuối. Tuy nhiên, đối với những ai đã đọc truyện thì chắc cũng biết, nhân vật Camerlengo để lại cho người đọc nhiều suy nghĩ (yêu/ghét). Còn do plot phim có thay đổi chút đỉnh cộng nhịp phim quá nhanh nên khán giả nếu chưa xem qua truyện thì khó thể hiểu và thông cảm với hoàn cảnh của cha này được.

    Những tác phẩm nghệ thuật trong Angels & Demons hay cả trong Da Vinci Code đều được coi như là những thành tựu trong nghệ thuật thời Phục Hưng ở châu Âu khi Vatican dần dần giải tỏa bớt ảnh hưởng (hay kiềm hãm) lên sự phát triển của nghệ thuật nói riêng và của cuộc sống con người nói chung. Đáng tiếc một điều là hầu hết những vĩ nhân (người có đuôi) thời này đều là người Ý và ít nhiều chịu ảnh hưởng của Vatican (dĩ nhiên là họ phải đầu tư phát triển những con người này để góp phần cho họ). Nhưng thú vị một điều là trong số đó có những con người không muốn ảnh hưởng từ Vatican nên đã ngấm ngầm phản kháng và gia nhập hay tạo nên những tổ chức ngầm chống đối với Nhà thờ ngay dưới mũi của họ. Tác phẩm của Dan Brown tuy yếu về plot nhưng rõ ràng đã chỉ ra được điều này. Những con người đó là Leonardo Da Vinci, Galileo Galilei…hay thậm chí là những “con cưng” của Nhà thờ như Michelangelo hay Bernini. Bernini thiết kế hàng loạt những tác phẩm điêu khắc để chỉ đến “ổ” của Illuminati, một tổ chức các nhà khoa học chống đối với quan điểm của Nhà thờ. Cá nhân tui cũng tin là Dan Brown kể đúng về giai thoại của những con người này (còn giai thoại thì không biết được mấy phần trăm sự thật, và vì như thế mới gọi là giai thoại). Họ điển hình cho một “thế hệ phản kháng” lại quyền lực của nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã bao trùm lên đời sống của con người thời đó và đại diện cho những thế lực “cách mạng” mới, đối kháng với Nhà thờ. Còn đối với nhân loại ngày nay, họ là những đại diện tiêu biểu nhất cho thời kỳ Phục hưng, thời kỳ giúp châu Âu trở lại chiếm ưu thế toàn cầu về kinh tế, văn hoá nghệ thuật cho đến tận bây giờ.

    SPOIL SPOIL SPOIL (Đoạn sau này nếu ai chưa coi truyện, chưa xem phim thì khỏi đọc cũng được).

    Đến đây tán thêm về nhân vật Camerlengo một chút. Khi đặt tít cho cuốn sách, ắt hẳn Dan Brown có dụng ý xây dựng hai hình mẫu Angels (Thiên thần) và Demons (Ác quỷ) tượng trưng cho những quan điểm trái ngược hơn là vạch rõ ranh giới thiện - ác. Angels ở đây gần với Chúa cho nên là đại diện cho thế lực Vatican, trong khi Demons đại diện cho những quan điểm trái với Nhà thờ (mà trái với quan điểm của họ thì họ cho là ngoại đạo (heretic) hay tà giáo, gần với quỷ dữ (demons)) mà chủ yếu là thế lực của Illuminati. Thật ra thế lực của Illuminati sau khi bị Nhà thờ tru diệt hàng mấy thế kỷ chỉ còn sót lại vài cá thể ở ngay tại Vatican (chưa bao gồm thế lực cực kỳ hùng mạnh ở những nơi khác mà điển hình là tổ chức Freemason nắm ưu thế ở Mỹ). Ngay cả tên sát thủ cũng được thuê của tổ chức Hassassin, một tổ chức sát thủ cổ đại khác mà tui có nhắc đến hồi lâu lâu rùi hehe. Nếu ai đọc cuốn Da Vinci Code trước Angels & Demons thì có thể nhận ra công thức 1 Master đứng ở đằng sau giật dây và một Apprentice trực tiếp ra tay (như kiểu Sir Teabing và Silas hay trong cuốn này là The Camerlengo và Hassassin) nhưng lại mượn tên tuổi của những tổ chức bang hội hùng hậu cùng với nền tảng kinh khủng trong lịch sử để khè người đọc là chính (để đến cuối người đọc mới nhận ra là thiệt ra có vài thằng mượn danh đi quậy thôi).

    Vai trò của The Camerlengo trong Angels & Demons (cái này nói trong truyện chứ trong phim diễn ra nhanh quá làm sao hiểu kịp) là một vai trò gây nhiều tranh cãi, không thể biết được là nên yêu hay ghét (vì yêu hay ghét đều đại diện cho hai quan điểm của hai phía Vatican và Illuminati hay hai ý thức hệ lớn hơn là Tôn giáo và Khoa học). Nhân vật the Camerlengo có nền tảng tôn giáo nặng nề do được nuôi dạy và trưởng thành trong Nhà thờ nên có một Đức tin tuyệt đối ở Đấng toàn năng (Đấng chúa trời or whatsoever). Ông có thể nói là một “Thiên thần”. Tuy nhiên, chính những hành động của The Camerlengo như mượn danh tổ chức tử thù Illuminati để hù Nhà thờ qua việc đầu độc Giáo hoàng đương nhiệm, gài bom phi vật chất doạ nổ cả Vatican dưới lòng thánh đường St. Peter và giựt dây cho việc bắt cóc và tiêu diệt từng Cảm tình viên (Perferiti hehehe) cho chức vụ Giáo hoàng mới đều bắt nguồn từ Đức tin. Và trớ trêu thay đó lại là những hành động khủng bố nên gần với “Quỷ dữ”. The Camerlengo tin tưởng rằng đây là sứ mệnh của Đấng chúa trời giao phó cho mình thực hiện để quét bỏ “tư tưởng khoa học” nhơ nhớp đang phát triển trong lòng Vatican mà cụ thể là ở chính vị Giáo hoàng đầy quyền lực. Hehe khi mà con người ta thực hiện một cái gì đó không phù hợp với đạo lý thì người ta lại mang Chúa trời ra làm bình phong và đổ cho đó là do ý Chúa muốn thế. Ngay cả những cuộc thập tự chinh đẫm máu hay hàng loạt vụ tru diệt tàn sát nhà khoa học và những người bị vu là ngoại đạo/phù thủy thời xưa cũng được cho là từ “ý Chúa”.

    Tóm lại, hành động của Camerlengo là của quỷ dữ ẩn dưới lớp vỏ cha đạo “thiên thần” và được đổ lỗi cho Chúa là hành động quỷ dữ hay thiên thần đều là do ý Bề trên, con chiên bên dưới chỉ có nhiệm vụ thực hiện ý Chúa mà không cần phải suy nghĩ. Đó là điều trớ trêu mà Dan Brown muốn nhấn mạnh. Và qua đó quan điểm thiện-ác, thiên thần hay quỷ dữ cũng chỉ là những điều đại diện cho những quan điểm trái ngược nhau. Có thể là thiên thần với ý thức hệ này nhưng lại là quỷ dữ ở ý thức hệ khác mâu thuẫn với ý thức hệ kia. Điều trớ trêu hơn nữa là cuối truyện Camerlengo biết được sự thật ông là con ruột của Giáo hoàng (với một bà nữ tu nào đó) (móa cái này giống Huyền Từ với Hư Trúc quá bay, thằng cha ăn mặn làm thằng con khát nước kekeke) và không chấp nhận nổi sự thật này nên ông đã tự thiêu cháy mình. Kết cục của The Camerlengo kể ra khá giống với kết cục của Joan of Arc, anh hùng dân tộc của Pháp. Cả 2 đều tự cho là được Chúa trực tiếp ban sứ mệnh và dẫn dắt họ thực hiện sứ mệnh. Joan of Arc giúp quân Pháp lấy lại gần hết những vùng đất Pháp bị quân Anh chiếm trong khi Camerlengo cũng chọc trời khuấy nước 1 lúc để rồi cả 2 đều chết cháy: Joan of Arc lên dàn hỏa của nhà thờ Anh còn Camerlengo thì tự thiêu.

    Mặt khác, trong Angels & Demons tuy không có sự đối đầu thực sự giữa khoa học (Illuminati đại diện) và tôn giáo (Vatican) nhưng cuốn sách đã chỉ ra trong thời hiện đại ngày nay tôn giáo phải chấp nhận tồn tại song song với khoa học. Trong phim còn có những cảnh trớ trêu là Vatican sử dụng khá nhiều thành tựu của khoa học kỹ thuật như hệ thống điện của cả Vatican được điều khiển bằng điện tử, toà nhà lưu trữ khổng lồ của Vatican thì được khóa bằng cánh cửa điện tử có mã hóa và cả hệ thống điều hòa không khí cũng được điều khiển bằng hệ thống điện tử nốt hay như màn hình video theo dõi đặt ngay dưới bàn gỗ làm việc của Chỉ huy trưởng đội lính gác Thụy Sỹ. Trong sách thì có nhắc đến vai trò của một người quan trọng (mà tiếc là phim đã bỏ hẳn không nhắc đến) là Leonardo Vetra, cha nuôi của Vittoria. Leonardo vừa là nhà khoa học nhưng cũng vừa là cha đạo. Ông muốn nghiên cứu khoa học để chứng minh khoa học chẳng qua là để minh họa những điều nói đến trong Kinh Thánh hay cụ thể hơn minh họa Chúa trời. Chính kết quả nghiên cứu khoa học để “tái tạo” lại một phiên bản của vụ nổ Big Bang để tạo ra phi vật chất là cho mục đích đó. Có thể ông được coi là một trong những người muốn dung hòa hai ý thức hệ khoa học và tôn giáo.

    Trong khi đó thì trong phim Camerlengo lại tuyên bố “Khoa học thực sự còn quá non trẻ so với tôn giáo”. Cảnh đẹp nhất trong truyện và cả trong phim là cảnh Camerlengo ôm quả bom lên trực thăng rồi lái nó lên không trung và nhảy xuống trước khi quả bom phát nổ. Hình ảnh quả bom phát nổ ngay trên bầu trời Vatican trong khi bên dưới là hàng vạn con chiên ngoan đạo đang chờ kết quả bầu cử Giáo hoàng mới như dựng lại một vụ nổ Big Bang mà với giới mộ đạo thì đó là sự tái hiện (resurrection) của Sáng thế kỷ (The Creation/Book of Genesis) mặc dù sự tái hiện này có sự góp mặt của thành tựu khoa học (là phi vật chất). Hình ảnh cánh dù trắng của Camerlengo rơi xuống trên nền những đám mây ngũ sắc tạo ra bởi vụ nổ của bom phi vật chất như muốn nói Camerlengo chính là một thiên thần được Chúa trời cử xuống để cứu cho cả Vatican và những con chiên khỏi một thảm họa diệt vong xảy ra trước mắt. Ngay cả Hội đồng Hồng y cũng đánh giá cao vai trò đó và gần đi đến quyết định cử Camerlengo làm Giáo hoàng mới, bỏ qua những quy luật cũ. Đồng thời ngay sau đó phim lại cho chúng ta thấy những việc làm khủng bố (quỷ dữ) của Camerlengo bị phát hiện bằng video quay lại (lại một thành tựu khoa học kỹ thuật) để dẫn đến việc Camerlengo (trong phim) tự thiêu như một hình ảnh của một “martyr” - một người tử vì đạo như Joan of Arc, Saint Sebastian, những hiệp sĩ Thập tự chinh, những chiến binh Hồi giáo cảm tử hay thậm chí là Thượng tọa Thích Quảng Đức bên phía Phật giáo hơn là một tên khủng bố nhằm gây khó khăn cho Vatican. Tiếc là phim lại để cho Camerlengo kêu la thảm thiết trong lúc bị cháy hơn là để cho ông im lặng chết cháy để đúng với hình ảnh “martyr” hơn. Tuy vậy, kết cục là Camerlengo vẫn được phong thánh để chứng minh cho ông là một martyr.

    Bỏ qua những chi tiết huyền hoặc có phần nhảm nhí câu khách của Dan Brown như việc Giáo hoàng có con riêng blah blah thì tinh thần chung của Angels & Demons là nhấn mạnh vai trò của tôn giáo tồn tại chung với phát triển của khoa học. Khoa học càng phát triển vai trò của tôn giáo không những bị thuyên giảm đi mà trái lại có phần phát triển mạnh mẽ hơn. Và những chỗ khoa học chưa thể giải thích nổi thì tôn giáo sẽ đứng ra, như đã từng đứng đó hàng ngàn năm nay, để làm chỗ dựa vững chắc cho đời sống tinh thần của con người, giúp con người có niềm tin mạnh mẽ vượt qua những hoàn cảnh khó khăn. Ngay cả con người mô phạm như Robert Langdon, tin tưởng vào khoa học hơn là Chúa trời khi đối diện với câu hỏi “Anh có tin vào Chúa trời không?” thì cũng không dám nói thẳng là không tin mà chỉ nói là “Đức tin là một món quà tuyệt vời mà tôi chưa có diễm phúc đón nhận nó được” (Faith is a gift that I have yet to receive). Phải chăng trong những nguời “ngoại đạo” chúng ta cũng tin tưởng điều tương tự như vậy ? Cá nhân tui thì tin như vậy.

    P.S: I’m sorry, God. Just because I cannot understand you doesn’t mean I don’t believe in you but right now money and hot chicks dominate me, blind my mind and my heart so at this moment I can only say “Faith is a gift that I have yet to receive”.

Tags : newsreviewfaithreligionsciencevaticanilluminati